Khi bạn đi tour du lịch Thổ Nhĩ Kỳ một điều bạn nên biết đó chính là lịch sử đất nước này, bài viết này sẽ nói cho bạn biết sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ. Điều này sẽ giúp bạn có thêm nhiều thông tin về đất nước mà bạn sắp tới hơn rất nhiều.

>>Xem thêm: Thủ tục xin visa Thổ Nhĩ Kỳ

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Các thông tin tóm tắt cơ bản, tổng quát về Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ
– Tên nước: Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ
– Ngày quốc khánh: 29/10 (1923).
– Thủ đô: Ankara.
– Vị trí địa lý: Thổ Nhĩ Kỳ có lãnh thổ nằm ở hai lục địa châu Á và châu Âu; phía Tây Nam giáp Gruzia, Armenia, Iran, Iraq; phía Nam giáp Syria, biển Địa Trung Hải; phía Đông giáp biển Aegean, Hy Lạp, Bulgaria.
– Diện tích: 780.580km2.
– Khí hậu: Thổ Nhĩ Kỳ có khí hậu ôn hòa Địa Trung Hải, với mùa hè nóng và khô, mùa đông lạnh ẩm và dịu, dù các điều kiện thời tiết có thể khắc nghiệt hơn ở những vùng khô cằn bên trong.
– Dân số: 71.892.808 người (tháng 7/2008).
– Dân tộc: Người Thổ Nhĩ Kỳ (80%), người Kurd (20%).
– Hành chính: Thổ Nhĩ Kỳ được chia thành 81 tỉnh. Mỗi tỉnh lại được chia thành tỉnh nhỏ. Tỉnh thường được đặt cùng tên với thành phố thủ phủ, cũng được gọi là các trung tâm tỉnh nhỏ; ngoại trừ Hatay (thủ phủ: Antakya), Kocaeli (thủ phủ: İzmit) và Sakarya (thủ phủ: Adapazarı).
– Đơn vị tiền tệ: Lira Thổ Nhĩ Kỳ (TL).
– Tôn giáo: Đạo Hồi (phần lớn là dòng Sumi) (99,8%), đạo Thiên Chúa và đạo Do Thái (0,2%).
– Ngôn ngữ chính: Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ; tiếng Kurd, tiếng Arập cũng được sử dụng.

>>Xem thêm: E-Visa nhập cảnh Thổ Nhĩ Kỳ thật đơn giản

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Lịch sử cổ đại
Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ: Những cư dân sớm nhất của Anatolia theo ghi chép là người Hatti và người Hurria, là các dân tộc phi Ấn-Âu lần lượt cư trú tại miền trung và miền đông Anatolia, từ khoảng 2300 TCN. Người Hittite Ấn-Âu đến Anatolia và dần hấp thu người Hattia và Hurria vào khoảng 2000–1700 TCN. Đế quốc lớn đầu tiên trong khu vực do người Hittite thành lập, tồn tại từ thé kỷ 18 đến thế kỷ 13 TCN. Người Assyria chinh phục và định cư tại nhiều nơi của miền đông nam Thổ Nhĩ Kỳ từ 1950 TCN cho đến năm 612 TCN. Urartu tái xuất hiện trên các câu khắc Assyria vào thế kỷ 9 TCN như một đối thủ phương bắc hùng mạnh của Assyria.
Sau khi Đế quốc Hittite sụp đổ vào khoảng 1180 TCN, một dân tộc Ấn-Âu là Phrygia giành được uy thế tại Anatolia cho đến khi vương quốc của họ bị người Cimmeria tiêu diệt vào thế kỷ 7 TCN. Bắt đầu từ 714 BC, Urartu có số phận tương tự và giải thể vào năm 590 TCN. Các quốc gia kế thừa hùng mạnh nhất của Phrygia là Lydia, Caria và Lycia.

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Thời cổ đại và Đông La Mã
Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ: Hagia Sophia tại Istanbul nguyên là một nhà thờ Cơ Đốc giáo, sau là một thánh đường Hồi giáo và hiện là một bảo tàng, công trình được người Byzantine xây dựng trong thế kỷ 6.
Bắt đầu từ khoảng 1200 TCN, người Hy Lạp Aeolus và Ionia định cư nhiều tại duyên hải Anatolia. Nhiều thành phố quan trọng được họ lập ra, như Miletus, Ephesus, Smyrna và Byzantium. Quốc gia đầu tiên được các dân tộc lân cận gọi là Armenia là quốc gia của triều đại Orontid, bao gồm các bộ phận miền đông Thổ Nhĩ Kỳ, bắt đầu từ thế kỷ 6 TCN. Tại tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ, nhóm bộ tộc quan trọng nhất tại Thrace là Odyrisia.

Đế quốc Achaemenes Ba Tư chinh phục Anatolia trong các thế kỷ 6 và 5 TCN, rồi thất thủ trước Alexandros Đại đế vào năm 334 TCN. Sự kiện này làm gia tăng tính đồng nhất văn hóa và Hy Lạp hóa trong khu vực. Sau khi Alexandros Đại đế từ trần vào năm 323 TCN, Anatolia bị phân chia thành một số vương quốc Hy Lạp hóa nhỏ, toàn bộ chúng đều trở thành bộ phận của Cộng hòa La Mã vào khoảng giữa thế kỷ 1 TCN. Quá trình Hy Lạp hóa vốn bắt đầu bằng cuộc chinh phục của Alexandros được tăng tốc dưới sự cai trị của La Mã, và đến khoảng những thế kỷ đầu CN thì ngữ tộc Anatolia và văn hóa bản địa bị tuyệt diệt, phần lớn bị thay thế bằng ngôn ngữ và văn hóa Hy Lạp cổ đại.

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Người Seljuk và Đế quốc Ottoman
Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ: Từ đầu thế kỷ 19 trở đi, Ottoman bắt đầu suy yếu, kích thước lãnh thổ cùng năng lực quân sự và thịnh vượng dần giảm đi, khiến nhiều người Hồi giáo Balkan di cư đến phần trung tâm của Đế quốc tại Anatolia, Ottoman suy yếu khiến tình cảm dân tộc chủ nghĩa nổi lên trong các dân tộc khác nhau, dẫn đến gia tăng căng thẳng dân tộc mà đôi khi bùng phát thành bạo lực.

Ottoman tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất bên phe Liên minh Trung tâm và cuối cùng chiến bại. Trong chiến tranh, người Armenia trong Đế quốc bị trục xuất từ miền đông Anatolia đến Syria như bộ phận của Cuộc diệt chủng người Armenia. Theo ước tính, có 1,5 triệu người Armenia bị sát hại. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ bác bỏ đó là một cuộc diệt chủng và tuyên bố rằng người Armenia chỉ bị tái định cư từ khu vực chiến sự phía đông. Sau Hiệp định đình chiến Mudros vào ngày 30 tháng 10 năm 1918, Đồng Minh tìm cách phân chia Ottoman thông qua Hòa ước Sèvres 1923

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ
Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ: Thổ Nhĩ Kỳ duy trì trung lập trong hầu hết Chiến tranh thế giới thứ hai, tuy nhiên tham gia trong giai đoạn cuối của chiến tranh bên phe Đồng Minh vào ngày 23 tháng 2 năm 1945. Ngày 26 tháng 6 năm 1945, Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một thành viên hiến chương của Liên Hiệp Quốc. Khó khăn của Hy Lạp sau chiến tranh đàn áp nổi loạn cộng sản, cùng với các yêu cầu của Liên Xô về căn cứ quân sự tại các eo biển Thổ nhĩ Kỳ, xúc tiến Hoa Kỳ tuyên bố Học thuyết Truman vào năm 1947. Học thuyết đề ra các mục đích của Hoa Kỳ để đảm bảo an ninh cho Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp, kết quả là hỗ trợ quân sự và kinh tế quy mô lớn của Hoa Kỳ. Hai quốc gia tham dự Kế hoạch Marshall và OEEC về tái thiết các nền kinh tế châu Âu vào năm 1948, và sau đó trở thành các thành viên sáng lập của OECD vào năm 1961.

Sau khi tham gia cùng lực lượng Liên Hiệp Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên, Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập NATO vào năm 1952, trở thành một tường thành chống lại sự bành trướng của Liên Xô đến Địa Trung Hải. Sau một thập niên bạo lực giữa các cộng đồng tại Síp, và đảo chính tại Síp vào ngày 15 tháng 7 năm 1974, trong đó phế truất Tổng thống Makarios và đưa nhân vật ủng hộ liên minh với Hy Lạp là Nikos Sampson lên cầm quyền, Thổ Nhĩ Kỳ xâm chiếm Síp vào ngày 20 tháng 7 năm 1974. Chín năm sau đó, Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ Bắc Síp được thành lập, Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia duy nhất công nhận chính thể này.

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ

Sơ lược về lịch sử cổ đại của Thổ Nhĩ Kỳ: Giai đoạn độc đảng kết thúc vào năm 1945, sau đó là một chuyển đổi náo động sang dân chủ đa đảng trong vài thập niên kế tiếp, bị gián đoạn do đảo chính quân sự vào năm 1960, 1971, và 1980, cũng như một bị vong lục quân sự vào năm 1997. Năm 1984, một nhóm ly khai người Kurd mang tên PKK bắt đầu chiến dịch nổi loạn chống chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ. Kể từ khi tự do hóa kinh tế trong thập niên 1980, Thổ Nhĩ Kỳ đạt được tăng trưởng kinh tế mạnh hơn và ổn định chính trị lớn hơn.

Để biết thêm thông tin cũng như giá tour du lịch Thổ Nhĩ Kỳ bạn có thể xem tại đây.

Comments