Một bài viết giới thiệu về Thổ Nhĩ Kỳ rất bổ ích cho các khách đi tour du lịch Thổ Nhĩ Kỳ. Bài viết dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ sẽ giúp mọi người có thêm những thông tin về đất nước này, mời bạn tham khảo.

>>Xem thêm: Kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ – Đặc khu hành chính

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ

Dân số:

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ KỳDân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ: Điều 66 của Hiến pháp Thổ Nhĩ Kỳ định nghĩa một người Thổ Nhĩ Kỳ là “bất kỳ ai rằng buộc với quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ thông qua quan hệ công dân”; do đó về pháp lý thì thuật ngữ người Thổ Nhĩ Kỳ là một công dân Thổ Nhĩ Kỳ, khác biệt với định nghĩa dân tộc. Đa số cư dân Thổ Nhĩ Kỳ thuộc dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ, họ được ước tính chiếm 70-75% dân số. Không có dữ liệu đáng tin cậy về thành phần dân tộc do điều tra nhân khẩu tại Thổ Nhĩ Kỳ không bao gồm số liệu về dân tộc. Ba nhóm thiểu số được chính thức công nhận theo Hiệp ước Lausanne là người Armenia, người Hy Lạp và người Do Thái.

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ

Các dân tộc khác gồm có người Albania, người Ả Rập, người Azeri, người Bosnia, người Circassia, người Gruzia, người Laz, người Ba Tư, người Pomak (Bulgaria), và người Di-gan. Người Kurd là một dân tộc riêng biệt, tập trung chủ yếu tại các tỉnh đông nam của Thổ Nhĩ Kỳ, họ là nhóm thiểu số lớn nhất và chiếm khoảng 18% dân số toàn quốc. Các nhóm thiểu số khác ngoài người Kurd được cho là chiếm 7-12% dân số. Các dân tộc thiểu số ngoài ba dân tộc được công nhận chính thức như kể trên không có bất kỳ quyền lợi thiểu số nào. Bản thân thuật ngữ “thiểu số” vẫn là một vấn đề nhạy cảm tại Thổ Nhĩ Kỳ, trong khi chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ thường xuyên bị chỉ trích vì cách họ đối đãi với các cộng đồng thiểu số. Mặc dù các dân tộc thiểu số không được công nhận, song nhà nước vận hành Công ty Phát thanh và Truyền hình Thổ Nhĩ Kỳ, phát sóng các chương trình truyền hình và phát thanh bằng các ngôn ngữ thiểu số.
2,5% dân số là các di dân quốc tế và Thổ Nhĩ Kỳ chấp thuận trên một triệu người tị nạn Syria từ khi Nội chiến Syria bắt đầu.
Ngôn ngữ chính thức của Thổ Nhĩ Kỳ là tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, đây là ngôn ngữ mẹ đẻ của khoảng 85% dân số. Khoảng 12% dân số nói tiếng Kurd như tiếng mẹ đẻ. Tiếng Ả Rập và tiếng Zaza là các ngôn ngữ mẹ đẻ của mỗi hơn 1% dân số, và một vài ngôn ngữ khác là ngôn ngữ mẹ đẻ của các bộ phận cư dân nhỏ hơn.

Tôn giáo

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ: Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia thế tục không có quốc giáo chính thức; Hiến pháp Thổ Nhĩ Kỳ quy định về tự do tôn giáo và lương tâm. Vị thế của tôn giáo đã là một vấn đề tranh luận trong nhiều năm kể từ khi các chính đảng Hồi giáo hình thành. Trong nhiều thập niên, việc mặc hijab bị cấm chỉ trong trường học và tòa nhà chính phủ do nó được nhận định là một biểu tượng của Hồi giáo chính trị. Tuy nhiên, lệnh cấm bị bãi bỏ khỏi các đại học vào năm 2011, và khỏi các tòa nhà chính phủ vào năm 2013,[176] và khỏi các trường phổ thông vào năm 2014.
Hồi giáo là tôn giáo chiếm ưu thế tại Thổ Nhĩ Kỳ với 99,8% cư dân đăng ký là tín đồ Hồi giáo. Trong khi một số nguồn đưa ra một ước tính thấp hơn là 96,4%, trong đó giáo phái phổ biến nhất là phái Hanafi của Hồi giáo Sunni. Quyền lực tôn giáo Hồi giáo tối cao thuộc về Chủ tịch sự vụ tôn giáo (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Diyanet İşleri Başkanlığı); chịu trách nhiệm quản lý hoạt động của khoảng 80.000 thánh đường có đăng ký trên toàn quốc và sử dụng các imam địa phương và cấp tỉnh. Các nguồn hàn lâm đề xuất số tín đồ phái Alevi có thể là từ 15 đến 20 triệu, và theo tạp chí Aksiyon thì số lượng tín đồ phái Imamiyyah (bao gồm Alevi) thuộc Hồi giáo Shia là 3 triệu (4,2%). Thổ Nhĩ Kỳ cũng có một số tín đồ phái Sufi của Hồi giáo. Khoảng 2% cư dân Thổ Nhĩ Kỳ là người Hồi giáo phi giáo phái.

Giáo dục

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ

Dân số và tôn giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ: Đại học Istanbul được thành lập vào năm 1453 với vị thế một Darülfünûn. Vào ngày 1 tháng 8 năm 1933, thế chế được tái tổ chức và trở thành đại học đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ.
Bộ Giáo dục Quốc dân chịu trách nhiệm về giáo dục tiền đại học. Giáo dục phổ thông là bắt buộc và kéo dài trong 12 năm: bốn năm cho mỗi cấp tiểu học, sơ trung và cao trung. Có dưới một nửa người Thổ Nhĩ Kỳ trong độ tuổi 25-34 hoàn thành một bậc trung học, so với tỷ lệ trung bình trên 80% của OECD. Giáo dục cơ bản tại Thổ Nhĩ Kỳ được nhận định là tụt hậu so với các quốc gia OECD khác, với khác biệt đáng kể. Khả năng tiếp cận trường học chất lượng cao phụ thuộc nhiều vào thành tích trong các kỳ thi nhập học cấp sơ trung, do vậy một số học sinh bắt đầu tham dự các lớp học gia sư từ khi 10 tuổi. Tỷ lệ người trưởng thành biết chữ vào năm 2011 là 94,1%; 97,9% đối với nam giới và 90,3% đối với nữ giới.

Chắn hẳn bài viết đã giúp bạn có thêm những điều thú vị về Thổ Nhĩ Kỳ, vậy nên hãy nhanh tay đăng kí cho mình và người thân một tour du lịch Thổ Nhĩ Kỳ tại đây.

Comments